2015

Số 35 Tập 12 (Tháng 3 năm 2015)

Chào mừng các bạn đã tới với số 35 của tạp chí Y tế Công cộng.

Trong số ra lần này có những nội dung chính sau:

Tác giả Trần Thị Tuyết Hạnh và cộng sự (CS) với nghiên cứu: “Tổng quan về các hóa chất độc hại trong thực phẩm thịt lợn, các sản phẩm chế biến từ thịt lợn và nguy cơ tới sức khỏe cộng đồng”. Đây là một bài tổng quan, thu thập các thông tin từ nhiều nguồn cập nhật được công bố trên cơ sở ScienceDirect. Tác giả muốn thông qua đây để đưa ra các khuyến nghị cho người tiêu dùng. Các nhà nghiên cứu cũng nên xem xét đây là một gợi ý để kiểm tra những thông tin này có trùng khớp với thực tế ở Việt Nam không, như một số ví dụ được đưa ra trong nghiên cứu này.

Tác giả Phạm Minh Khuê và CS đã nghiên cứ thực trạng quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện huyện thành phố Hải Phòng năm 2013 mô tả những tiến bộ bước đầu về quản lý chất thải bệnh viện. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều mặt để có thể hình thành một quy trình quản lý toan diện và có chất lượng nguồn ô nhiễm nguy hiểm này. Bài viết gợi ý một nghiên cứu rộng hơn ở nhiều địa phương để có thể đưa ra hình ảnh đại diện hơn và lập kế hoạch cho một quy trình quản lý có hiệu quả.

Tác giả Dương Thị Thu Hương và CS đã nghiên cứu đề tài khác biệt về giới tính và những thiếu hụt về kiến thức sức khỏe sinh sản và tình dục an toàn của học sinh bậc trung học phổ thông tại một trường THPT ở Bắc Giang. Kết quả nghiên cứu cho thấy còn nhiều thông tin quan trọng liên quan tới sức khỏe sinh sản, ảnh hưởng tới sức khỏe giới tính, tình dục cần cung cấp cho nhóm đối tượng học sinh phổ thông, đặc biệt là nhóm đối tượng nam giới. Báo cáo này lại một lần nữa cảnh báo việc cần sớm có một chương trình giáo dục giới tính có hiệu quả để có thể bảo vệ lứa tuổi này.

Tác giả Lê Minh Thi và CS đã nghiên cứu vấn đề các rào cản trong thực hiện thông thuw16/2009/BYT về sàng lọc, hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đinh tại Việt Nam. Thực tế cho thấy thông thư hiện tại chủ yếu vẫn chưa tới được người dân do do còn quá nhiều rào cản cả từ phía ra thông thư lẫn phía người cần sự trợ giúp.

Tác giả Vũ Thị Thúy Mai và CS nghiên cứu những thay đổi kiến thức phòng bệnh chân-tay-miệng sau can thiệp truyền thông về bệnh này ở các bà mẹ có con dưới 2 tuổi ở Vụ Bản, Nam Định. Kết quả cho thấy những kiến thức thực tế phòng bệnh cho chính con minh được các bà mẹ rất quan tâm và những kiến thức đó được duy trì lâu dài (3 tháng) sau khi được tiếp cận. Đây là cơ sở để xây dựng các chương trình đào tạo trực tiếp cho các bà mẹ về phòng chống các bệnh cho con minh.

Tác giả Nguyễn Hiền Vương và CS đã nghiên cứu tình trạng sử dụng rượu bia của nam giới trong độ tuổi 15-60 tại xã Ninh Hiệp, Gia Lâm, Hà Nội năm 2014. Kết quả nghiên cứu cho thấy độ tuổi trung binh sử dụng rượu bia là quá sớm, với một tỷ lệ uống hàng ngày là rất lớn (>26%) và tỷ lệ phụ thuộc rượu bia là 3%. Đây lại một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuyên truyền giáo dục và những biện pháp bắt buộc hạn chế sử dụng rượu bia để giảm thiểu tai nạn giao thông đang rất trầm trọng ở Việt Nam.

Tạp chí trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Tổng biên tập

Lê Vũ Anh

Số 34 Tập 12 (Tháng 1 năm 2015)

Chào mừng các bạn đến với tạp chí YTCC số 34

Trong số này, nhóm tác giả Nguyễn Hữu Thắng và CS đã tìm hiểu tình trạng nguồn nhân lực y tế công tại huyện Kim Bảng và Bình Lục của tỉnh Hà Nam năm 2014. Bài báo cho thấy thực trạng thiếu nhân lực ở tất cả các cấp như bác sỹ, dược sỹ, đặc biệt ở tuyến xã. Thực trạng này chủ yếu được so sanh với chuẩn của Bộ Y tế nhưng chưa so sanh với nhu cầu khám chữa bệnh thực tế của địa phương. Cũng liên quan tới dịch vụ chăm sóc sức khỏe, nhóm tác giả Nguyễn Văn Nghị và CS đã tiến hành đề tài: “Thực trạng và một số yếu tố liên quan dịch vụ khám chữa bệnh tại các trạm y tế phường thuộc quận Ngô Quyền, Hải Phòng năm 2013”. Sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua phỏng vấn người sử dụng dịch vụ và kết hợp định tính, nhóm tác giả đưa ra những kết luận sát thực hơn, đặc biệt liên quan tới việc trả lời các câu hỏi tại sao và như thế nào. Kết quả cho thấy tỷ lệ người sử dụng dịch vụ tại trạm y tế rất thấp. Vì vậy, việc tăng cường chất lượng và niềm tin vào những cơ sở này đóng vai trò quan trọng trong việc giảm tình trạng quá tải ở các tuyến trên.

Già hóa dân số đang thực sụ trở thành một ganh nặng không những với ngành y tế mà với cả nền kinh tế. Một cách đề cập mới dùng người cao tuổi làm trung tâm trong việc tuyên truyền, vận động tăng cường sức khỏe cộng đồng và thông qua đó tăng cường sức khỏe của người cao tuổi tham gia chương trình do tác giả Lê Vũ Anh và CS tiến hành tại Tiền Hải-Thái Bình. Bài báo đưa ra một cách đề cập mới cho phép giải quyết vấn đề một cách bền vững trên diện rộng. Liên quan tới phương pháp giảng dạy, tác giả Hứa Thanh Thủy và CS đã tiến hành đề tài nghiên cứu: “Kết quả triển khai phương pháp học tập dựa vào tình huống của trường đại học YTCC”. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng để có thể giảng dạy dựa vào những phương pháp mới, cơ sở đào tạo cần phải được trang bị các phương tiện giảng dạy và nguồn lực cần thiết mới có thể đảm bảo chất lượng.

Tác giả Bùi Thị Quỳnh Trâm và CS lại quan tâm tới một vấn đề mà người lao động thường mắc phải và gây những hậu quả mạn tính đó là đau thắt lưng nghề nghiệp. “Nghiên cứu tổng quan về đau thắt lưng nghề nghiệp” sẽ là những thông tin nền tảng, cung cấp cho những ai có ý định nghiên cứu vấn đề này. Tác giả Nguyễn Đỗ Anh Tuấn và CS đã nghiên cứu đề tài: “Đánh giá mức độ an toàn sinh học của cụm chăn nuôi gia cầm ở Việt Nam”. Đề tài nghiên cứu đã cung cấp một phương pháp đanh giá tương đối toàn diện về một vấn đề về một vấn đề trong khuôn khổ của cách đề cập một sức khỏe. Một vấn đề không mới nhưng quan trọng đã được tác giả Phạm Hương Trà Linh và CS tiến hành: “Thực trạng và một số yếu tố liên quan tới hành vi quan hệ tình dục của sinh viên trường cao đẳng y tế Phú Thọ, năm 2014”. Kết quả cho thấy một hình ảnh đáng quan ngại về tình trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân tại một cơ sở đào tạo. Một thực tế rất đáng có những can thiệp nghiêm túc. Nghiên cứu: “Tình trạng stress của điều dưỡng và hộ sinh Bệnh viện phụ sản Nhi Đà Nẵng” chỉ ra 3 yếu tố gây stress, mà chỉ khắc phục chúng thì mới giảm thiểu được tình trạng stress.

Xin giới thiệu cùng các bạn Tạp chí Y tế công cộng số 34

Tổng biên tập

Lê Vũ Anh


2014

Số 33 Tập 11 (Tháng 9 năm 2014)

Chào mừng các bạn đã đến với tạp chí YTCC số 33

Trong số này, chúng tôi hân hạnh giới thiệu với các bạn những nội dung chính sau: Bài của tác giả Lê Vũ Anh và cộng sự đã lần đầu tiên tổng kết những thông tin liên quan tới người cao tuổi tại Việt Nam theo các tiêu chí: xây dụng và thực thi chính sách, các công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố liên quan. Đây sẽ là cơ sở cho việc đanh giá ban đầu, nhưng quan trọng hơn là cần đưa ra những quyết định cơ bản để xây dựng một cơ chế tăng cường chất lượng cuộc sống của bộ phận dân số ngày càng tăng lên ở Việt Nam.

Nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Bình An và CS liên quan tới vấn đề thiếu hụt nguồn nhân lực y tế, đặc biệt là bác sỹ tại các vung khó khăn như duyên hải Nam Trung Bộ, gây ảnh hưởng không ít đến việc cung cấp dịch vụ y tế có chất lượng tại khu vực này. Bài báo đã đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm duy trì và phát triển nhân lực y tế tại 8 tỉnh thuộc dự án. Nguồn nhân lực luôn là vấn đề quan trọng, vì vậy nhóm tác giả Nguyễn Hữu Thắng và CS cũng tiến hành một nghiên cứu liên quan đến sự hài lòng và tác động vào đó để duy trì và phát triển nguồn nhân lực. Nhóm tác giả Nguyễn Thái Quỳnh Chi và CS đã rất thực tế khi nghiên cứu về tình trạng stress của cán bộ giảng viên Trường Đại học YTCC, một ngôi trường được đanh giá là đã cố gắng nâng cao, phát triển toàn diện cả chất lượng giảng dạy và nghiện cứu khoa học đối với các giảng viên của trường. Nhóm tác giả Lê Đức Sang và CS đã đưa chúng ta trở lại với một vấn đề cổ điển rất thực tế, đó là thực hành an toàn thực phẩm của người kinh doanh thực phẩm tươi sống. 30% đối tượng không tuân thủ là một con số lớn có nguy cơ gây hại cho người sử dụng cao. Cũng với đề tài tương tự nhưng trên một bếp ăn tập thể, nhóm tác giả Hoàng Đức Hạnh và CS đã đưa ra con số trên 20% số người chế biến thực phẩm được phát hiện có E. coli và tụ cầu vàng trên tay. Chuyển sang một loại đề tài khác, nhóm tác giả Truyen Tuyết Mai và CS đã đưa ra kết quả tỷ lệ kháng insulin và mắc hội chướng chuyển hóa ở người trưởng thành 40-59 tuổi bị thừa cân, béo phì là cao, bên cạnh đó là các vấn đề về rối loạn lipid máu, glucose máu, ít hoạt động thể lực. Đây cũng là những bằng chứng quan trọng cho vận động chính sách về vận động thể lực cho mọi lứa tuổi trong thời gian tới. Nhóm tác giả Lê Thị Kim Ánh và CS đã sử dụng một cách đề cập được cho là mới trong việc sử dụng người cao tuổi tình nguyện cho hoạt động can thiệp giảm thiểu tiêu thụ rượu bia để cùng một lúc đạt được hai mục tiêu: tăng cường chất lượng cuộc sống của NCT và giảm thiểu tiêu thu rượu bia trong cộng đồng, một cách tiếp cận can thiệp bền vững và hiệu quả. Tham khảo nghiên cứu này, độc giả có thể mạnh dạn áp dụng trên địa bàn minh phụ trách.

Trân trọng giới thiệu các nghiên cứu tới các bạn.

Tổng biên tập

Lê Vũ Anh

 

Số 32 Tập 11 (Tháng 7 năm 2014)

Chào mừng các bạn đã đến với số 32 của tạp chí Y tế Công cộng.

Trong số này chúng tôi xin giới thiệu với các bạn những nội dung sau:

Thông qua bài báo “Mức độ tham gia cộng đồng của người khuyết tật tuổi lao động tại phường Xuân Hà, thành phố Đà Nẵng”, tác giả Phan Thị Hoàng Ngân và cộng sự đã cố gắng so sánh những hoạt động tham gia cộng đồng người khuyết tật trong mẫu nghiên cứu với chuẩn tham gia được khuyến nghị của Tổ chức Y tế thế giới, Bài báo khuyến nghị cần tăng cường việc này trong cộng đồng người khuyết tật, đặc biệt là nữ. Bài “Tình dục không an toàn dưới tác dụng của đá trong nhóm nữ mại dâm đường phố tại Hà Nội” của tác giả Phạm Vân Anh và CS là một nghiên cứu chỉ sử dụng phương pháp định tính với 18 trường hợp mại dâm nữ có sử dụng đá, có thể rút ra những bài học kinh nghiệm cho cá nhân khi so sanh với sự nghiêm ngặt của các phương pháp định lượng.

Bài “Cấu trúc cơ thể, mối liên quan giữa tuổi, cấu trúc cơ thể và chỉ số khối cơ thể ở trẻ em 3-5 tuổi” của Nguyễn Quang Dũng và CS đã đưa ra cách đề cập mới trong đo đạc nhân trắc trên trẻ em trước tuổi tới trường. Theo cách này để xác định thực trạng thừa cân, béo phì, việc chỉ đơn thuần áp dụng phương pháp đo đạc truyền thống (BMI) không còn chính xác mà nên áp dụng phương pháp mới đặc thù hơn (%MCT). Bài “Tai nạn giao thông nhập viện và một số yếu tố liên quan tại tỉnh Bình Định năm 2011” của tác giả Nguyễn Thị Như Tú và CS cho thấy hình ảnh dịch tễ học của tại nạn giao thông tại tỉnh Bình Định. Vấn đề không mới, nhưng tính đặc thù theo vùng có thể sẽ giúp các chương trình phòng chống tai nạn thương tích phù hợp hơn.

Bài “Hoạt động của cộng tác viên y tế của các phương trọng điểm và các khó khăn trong giám sát sốt Dengue tại quận Đống Đa, Hà Nội năm 2012-13” của tác giả Nguyễn Thị Kim Ánh và CS chỉ ra những điểm cần và có thể làm tốt hơn công tác này khi hàng năm dịch Dengue vẫn đe dọa khu vực này. Bài “Đánh giá chương trình can thiệp tăng cường thực hành của cán bộ y tế hướng tới chửa ngoài tử cung tại Đại Từ và Đồng Hỷ, Thái Nguyên năm 2011” của tác giả Bùi Tú Quyên và CS cho thấy với một gói can thiệp khá đơn giản và khả thi, những cán bộ y tế được trang bị gói này có thể thực hành tốt, làm giảm đáng kể các tai biến gây tử vong của người chửa ngoài tử cung tại những vùng miền núi khó khăn.

Bài “Một số yếu tố nguy cơ rối loạn đường huyết của người trưởng thành 40-69 tuổi tại một số phường của thành phố Hạ Long” của tác giả Trương Tuyết Mai và CS sử dụng phương pháp nghiên cứu bệnh-chứng để xác định những yếu tố kinh điển gây ra rối loạn đường huyết. Việc cung cấp bằng chứng khoa học thông qua sử dụng cách đề cập như trong bài viết là hợp lý trong bối cảnh kinh phí cho nghiên cứu hạn chế. Bài “Thực hành mô hình tổ chức nhân lực và sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế dự phòng quận huyện thành phố Đà Nẵng” của tác giả Ngô Thik Kim Yến và CS đã mang đến hình ảnh tổng thế của hệ thống chăm sóc sức khỏe trong bối cảnh phổ bệnh tật đang thay đổi theo hướng các bệnh không truyền nhiễm, mạn tính đang dần chiếm đa số. Bên cạnh đó, tăng cường công tác truyền thông, giao dục thay đổi hành vi nguy cơ quan trọng và mang lại hiệu quả hơn điều trị.

Trân trọng giới thiệu với bạn đọc.

Tổng Biên tập

Lê Vũ Anh


2013


2012


2011


2010


2009


2008


26 - 50 trong số 59 mục     << < 1 2 3 > >>